Soi cặn lắng nước tiểu (Xét nghiệm tế bào trong nước tiểu bằng máy tự động)
Theo thông tin từ nhà sản xuất máy soi cặn nước tiểu tự động URIT Medical – Trung Quốc. URIT đánh giá rất cao loại xét nghiệm này ở hiện tại và trong tương lai sẽ phổ biến. Soi cặn nước tiểu là xét nghiệm được làm thường quy ở tất cả các phòng xét nghiệm. Hãng đã cho ra đời loại máy nhỏ như UD-500 và lớn hơn UD-1320.
Ở Việt Nam,các phòng xét nghiệm hiện nay đều làm xét nghiệm sinh hóa nước tiểu. Nhưng tại sao soi cặn nước tiểu lại chưa được các phòng xét nghiệm và chuyên gia quan tâm đến? Do chưa có sản phẩm nào đáp ứng phù hợp với nhu cầu ở thị trường Việt Nam. Các nước xung quanh chúng ta như: Singapore, Thái Lan, Indonesia, Trung Quốc, Philippines… đã triển khai phổ biến nhiều năm nay.
Vậy soi cặn nước tiểu làm gì? Chúng có quan trọng không? Nào bây giờ chúng ta hãy đi tìm hiểu nhé.
1. Khái niệm về soi cặn nước tiểu.
Soi cặn nước tiểu là để phát hiện tên các loại hạt và định lượng chúng gồm:
– Các loại tế bào: hồng cầu, hồng cầu bất thường, bạch cầu, cụm bạch cầu, tế bào biểu mô vảy, tế bào biểu mô không vẩy.
– Các loại trụ: Trụ bệnh lý (trụ sáp, trụ tế bào, trụ hạt, trụ hỗn hợp), trụ trong, trụ mỡ, …
– Các loại tinh thể: tinh thể canxi, tinh thể acid uric hay urat, tinh thể Struvite, …
– Các loại vi khuẩn, nấm, tinh trùng, chất nhầy
– Các loại hạt khác…
Xét nghiệm soi cặn nước tiểu có thể giúp tìm ra nguyên nhân của một số vấn đề sức khỏe bạn đang gặp phải. Nếu tình trạng bất thường không được phát hiện và giải quyết sớm dẫn đến mức độ bệnh nghiêm trọng hơn. Kết quả giúp bác sĩ sàng lọc, phát hiện, chẩn đoán, và định hướng điều trị bệnh nhanh chóng – chính xác.
2. Các phương pháp soi cặn nước tiểu.
2.1 Phương pháp thủ công:
Phương pháp này có nhiều hạn chế như sau:
– Lượng mẫu vi trường ít và phụ thuộc vào cách lấy mẫu nên khi soi số lượng hạt ít thì khó phát hiện.
– Không đếm số lượng bằng mắt thường qua kính hiển vi nên chỉ cho kết quả có hoặc không và nhiêu hay ít.
– Kỹ thuật viên xác định tên loại hạt dễ bị nhầm với nhiều loại hạt có hình thái gần giống nhau. Dễ dẫn đến định nghĩa sai các loại hạt.
– Nếu làm đúng quy trình làm cặn Addis thì quy trình phức tạp mất hàng giờ đồng hồ mà vẫn phải soi kính thủ công.
2.2 Phương pháp bằng máy tự động:
Công nghệ hiện nay phát triển nhanh chóng và rất hiện đại. Các máy soi cặn nước tiểu tự động với việc ứng dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo AI, Camera kỹ thuật số có độ phân dải cực lớn lên đến 4 triệu pixels. Phân tích máy tự động nhanh chóng, trực quan, cung cấp dữ liệu chính xác, định lượng hầu hết các loại hạt. Khắc phục hoàn toàn các yếu điểm của phương pháp soi cặn nước tiểu thủ công.
Quy trình tự động như Máy UD-500 hay Máy tự động hoàn toàn UD-1320 được làm theo các bước như sau:
– Bước 1: Lấy mẫu có 2 cách (thống nhất 1 cách lấy mẫu đảm bảo đồng nhất kết quả).
* Cách 1 lấy mẫu nước tiểu giữa dòng vào buổi sáng hoặc bất kỳ thời điểm nào trong ngày cho vào ống nghiệm. Mẫu cần được đưa vào phân tích trong vòng 2 giờ đồng hồ sau khi lấy.
* Cách 2 lấy mẫu đủ bãi vào cốc to sạch, lắc đều và lấy vào ống nghiệm vừa đủ. Mẫu cần được đưa vào phân tích trong vòng 2 giờ đồng hồ sau khi lấy.
– Bước 2: Phân tích mẫu.
Làm theo đúng quy trình của từng loại thiết bị hãng sản xuất đưa ra.
– Bước 3: Đánh giá kết quả.
Với mẫu nước tiểu trong (không đậm màu, không đục) thường không có hạt hoặc số lượng ít. Hoặc sẽ bị đậm mầu, đục do mẫu có các loại hạt tạo nên và cần đánh giá kỹ hơn. Kỹ thuật viên đánh giá kết quả bất thường bằng hình ảnh toàn cảnh và ảnh riêng từng hạt để xác định tính chính xác.
3. Khi nào bệnh nhân cần làm xét nghiệm soi cặn?
Không chỉ là một phần của khám sức khỏe định kỳ, đặc biệt khi tiểu thấy mầu đậm hoặc đục bất thường. Xét nghiệm soi cặn nước tiểu được thực hiện để:
– Kiểm tra bệnh hoặc nhiễm trùng đường tiểu. Triệu chứng nhiễm trùng đường tiểu: nước tiểu có màu, đục, mùi hôi, đau khi đi tiểu, buốt, đau sườn, máu, sốt.
– Kiểm tra và điều trị tiểu đường, sỏi thận, nhiễm trùng đường tiểu (UTI), cao huyết áp, bệnh thận và gan.
4. Đánh giá kết quả soi cặn nước tiểu
- Mẫu bình thường: Nước tiểu bình thường có ít hồng cầu (0-2/vi trường), bạch cầu (0-3/vi trường), tế bào niêm mạc thoái hóa và đôi khi có tinh trùng (ở nam giới).
- Mẫu bệnh lý:
- Đái ra hồng cầu: Đái máu nhiều, nước tiểu có màu hồng hoặc đỏ, hồng cầu sẽ lắng xuống khi để lâu. Lượng máu nhỏ (1 ml trong 1 lít nước tiểu) có thể làm thay đổi màu sắc nước tiểu. Soi cặn nước tiểu thấy hồng cầu dày đặc. Nếu hồng cầu bị ly giải, xét nghiệm nước tiểu có thể cho kết quả dương tính nhưng không thấy hồng cầu khi soi cặn. Đái ra hồng cầu gặp trong viêm cầu thận, lao thận, sỏi tiết niệu, viêm bàng quang, ung thư bàng quang.
- Đái ra bạch cầu: Tế bào bạch cầu hình đĩa, sáng, có nhiều hạt bên trong, tập trung thành đám mủ.
- Đái ra trụ hình: Trụ hình là các cấu trúc hình trụ trong nước tiểu, được tạo ra từ mucoprotein do tế bào ống thận tổn thương tiết ra và protein huyết tương lọt qua cầu thận. Trụ niệu là dấu hiệu tổn thương thực thể ở cầu thận hoặc ống thận.
- Những thành phần cặn lắng khác: Một số chất vô cơ, hữu cơ có thể lắng cặn khi nước tiểu để lâu. Các tinh thể canxi, uric acid, phosphat có thể xuất hiện tùy theo thay đổi sinh lý hoặc bệnh lý. Nếu có nhiều tinh thể, có thể nguy cơ tạo sỏi thận. Tinh thể cũng có thể xuất hiện trong viêm âm hộ, viêm niệu đạo, bàng quang hoặc đường niệu. Tế bào biểu mô với vùi mỡ óng ánh là đặc hiệu của hội chứng thận hư.


